TOÀN VĂN: Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
07/09/2025 05:59(Chinhphu.vn) - Tổng Bí
thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính
trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi
số quốc gia. Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết.
Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng
tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là
điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng
cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của Dân tộc.
Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều
chủ trương, chính sách đẩy mạnh ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, thúc
đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách
mạng công nghiệp lần thứ tư, đạt được nhiều kết quả quan trọng.
·

Nghị quyết 193/2025/QH15 thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc
biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi
số quốc giaĐỌC NGAY
Tuy nhiên, tốc độ và sự bứt phá về phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia còn chậm; quy mô,
tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia còn khoảng
cách xa so với nhóm các nước phát triển; nhận thức của nhiều cấp, nhiều ngành,
cán bộ, công chức và Nhân dân về chuyển đổi số chưa đầy đủ và sâu sắc; nghiên
cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa có bước đột phá, chưa
làm chủ được công nghệ chiến lược, công nghệ cốt lõi; thể chế pháp luật, cơ
chế, chính sách chưa đáp ứng yêu cầu; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu;
hạ tầng chưa đồng bộ, nhất là hạ tầng số còn nhiều hạn chế; an ninh, an toàn
thông tin, bảo vệ dữ liệu còn nhiều thách thức.
Đất nước ta đang đứng trước yêu cầu cần có chủ
trương, quyết sách mạnh mẽ, mang tính chiến lược và cách mạng để tạo xung lực
mới, đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số,
để đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên giàu mạnh,
hùng cường, thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước
đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm
2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Từ tình hình trên, Bộ Chính trị
yêu cầu quán triệt thực hiện tốt các nội dung sau:
I- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO
1. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực
chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản
xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn
chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ
nguyên mới.
2. Tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng,
phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực của
doanh nhân, doanh nghiệp và Nhân dân đối với phát triển khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Xác định đây là cuộc cách mạng sâu
sắc, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực; được triển khai quyết liệt, kiên trì,
đồng bộ, nhất quán, lâu dài với những giải pháp đột phá, mang tính cách
mạng.
Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ
thể, nguồn lực, động lực chính; nhà khoa học là nhân tố then chốt; Nhà nước giữ
vai trò dẫn dắt, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển khoa
học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công
nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi, trong đó thể chế là điều
kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước. Đổi mới tư duy xây dựng
pháp luật bảo đảm yêu cầu quản lý và khuyến khích đổi mới sáng tạo, loại bỏ tư
duy "không quản được thì cấm". Chú trọng bảo đảm nguồn nhân lực trình
độ cao cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
quốc gia; có cơ chế, chính sách đặc biệt về nhân tài.
Phát triển hạ tầng, nhất là hạ tầng số, công
nghệ số trên nguyên tắc "hiện đại, đồng bộ, an ninh, an toàn, hiệu quả,
tránh lãng phí"; làm giàu, khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, đưa dữ
liệu thành tư liệu sản xuất chính, thúc đẩy phát triển nhanh cơ sở dữ liệu lớn,
công nghiệp dữ liệu, kinh tế dữ liệu.
4. Phát triển nhanh và bền vững, từng bước tự
chủ về công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược; ưu tiên nguồn lực quốc gia đầu
tư cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phát
huy tối đa tiềm năng, trí tuệ Việt Nam gắn với nhanh chóng tiếp thu, hấp thụ,
làm chủ và ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến của thế giới; đẩy
mạnh nghiên cứu ứng dụng, chú trọng nghiên cứu cơ bản, tiến tới tự chủ và cạnh
tranh về công nghệ ở một số lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu, tiềm năng, lợi thế.
5. Bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian
mạng; bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin của tổ chức và
cá nhân là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời trong quá trình phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
II- MỤC TIÊU
1. Đến năm 2030
- Tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và
đổi mới sáng tạo đạt mức tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn
đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao; trình độ, năng lực công nghệ,
đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đạt mức trên trung bình của thế giới; một số
lĩnh vực khoa học, công nghệ đạt trình độ quốc tế. Việt Nam thuộc nhóm 3 nước
dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và
chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về
nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo, trung tâm phát triển một số ngành,
lĩnh vực công nghiệp công nghệ số mà Việt Nam có lợi thế. Tối thiểu có 5 doanh
nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến.
- Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp
(TFP) vào tăng trưởng kinh tế ở mức trên 55%; tỉ trọng xuất khẩu sản phẩm công
nghệ cao trên tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu đạt tối thiểu 50%. Quy mô kinh tế
số đạt tối thiểu 30% GDP. Tỉ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và
doanh nghiệp đạt trên 80%; giao dịch không dùng tiền mặt đạt 80%. Tỉ lệ doanh
nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40% trong tổng số doanh
nghiệp.
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo góp
phần quan trọng xây dựng, phát triển giá trị văn hoá, xã hội, con người Việt
Nam, đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì trên 0,7.
- Kinh phí chi cho nghiên cứu phát triển
(R&D) đạt 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm hơn 60%; bố trí ít nhất
3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng
tạo, chuyển đổi số quốc gia và tăng dần theo yêu cầu phát triển. Hệ thống tổ
chức khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo được sắp xếp lại bảo đảm hiệu lực,
hiệu quả, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu - ứng dụng - đào tạo.
Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển
công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân; có từ 40 - 50 tổ
chức khoa học và công nghệ được xếp hạng khu vực và thế giới; số lượng công bố
khoa học quốc tế tăng trung bình 10%/năm; số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn
bằng bảo hộ sáng chế tăng trung bình 16 - 18%/năm, tỉ lệ khai thác thương mại
đạt 8 - 10%.
- Hạ tầng công nghệ số tiên tiến, hiện đại,
dung lượng siêu lớn, băng thông siêu rộng ngang tầm các nước tiên tiến; từng
bước làm chủ một số công nghệ chiến lược, công nghệ số như: Trí tuệ nhân tạo,
Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn, điện toán đám mây, chuỗi khối, bán dẫn,
công nghệ lượng tử, nano, thông tin di động 5G, 6G, thông tin vệ tinh và một số
công nghệ mới nổi. Phủ sóng 5G toàn quốc.
Hoàn thành xây dựng đô thị thông minh đối với
các thành phố trực thuộc Trung ương và một số tỉnh, thành phố có đủ điều kiện.
Thu hút thêm ít nhất 3 tổ chức, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới đặt
trụ sở, đầu tư nghiên cứu, sản xuất tại Việt Nam.
- Quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa
phương trên môi trường số, kết nối và vận hành thông suốt giữa các cơ quan
trong hệ thống chính trị. Hoàn thành xây dựng, kết nối, chia sẻ đồng bộ cơ sở
dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu các ngành; khai thác và sử dụng có hiệu quả tài
nguyên số, dữ liệu số, hình thành sàn giao dịch dữ liệu.
Phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội
số, công dân số, công nghiệp văn hoá số đạt mức cao của thế giới. Việt Nam
thuộc nhóm các nước dẫn đầu về an toàn, an ninh không gian mạng, an ninh dữ
liệu và bảo vệ dữ liệu.
2. Tầm nhìn đến năm 2045
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số phát triển vững chắc, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát
triển, có thu nhập cao. Việt Nam có quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP; là
một trong các trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới; thuộc
nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Tỉ lệ doanh
nghiệp công nghệ số tương đương các nước phát triển; tối thiểu có 10 doanh
nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến. Thu hút thêm ít nhất 5 tổ
chức, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, đầu tư nghiên cứu,
sản xuất tại Việt Nam.
III- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP
1. Nâng cao nhận thức,
đột phá về đổi mới tư duy, xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ, quyết liệt
lãnh đạo, chỉ đạo, tạo xung lực mới, khí thế mới trong toàn xã hội về phát
triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
- Các cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên
cần nhận thức đầy đủ tầm quan trọng và quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ
trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về chuyển đổi số, phát triển khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo, xác định rõ trách nhiệm, chủ động triển khai thực
hiện. Người đứng đầu phải trực tiếp phụ trách, chỉ đạo; cán bộ, đảng viên phải
gương mẫu thực hiện.
Nhiệm vụ chuyển đổi số, phát triển khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo được xác định cụ thể trong chương trình, kế hoạch
công tác hằng năm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương; kết quả thực hiện
là tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, đánh giá thi đua, khen thưởng
hằng năm.
Bố trí phù hợp số lượng cán bộ có trình độ
chuyên môn khoa học kỹ thuật trong cấp uỷ các cấp. Phát huy tinh thần sáng tạo,
dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong
phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
- Có chương trình tuyên truyền, giáo dục hiệu
quả để nâng cao nhận thức, quyết tâm, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo, thực hiện chuyển đổi số trong cả hệ thống chính trị, người dân và
doanh nghiệp, tạo niềm tin, khí thế mới trong xã hội. Triển khai sâu rộng phong
trào "học tập số", phổ cập, nâng cao kiến thức khoa học, công nghệ,
kiến thức số trong cán bộ, công chức và Nhân dân; các phong trào khởi nghiệp,
sáng tạo, cải tiến nâng cao hiệu quả công việc, năng suất lao động, khơi dậy
tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, phát huy trí tuệ
Việt Nam thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Mở rộng đa dạng các hình thức tôn vinh, biểu
dương, khen thưởng kịp thời, xứng đáng các nhà khoa học, nhà sáng chế, các
doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có thành tích trong phát triển khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; trân trọng từng phát minh, sáng chế,
cải tiến kỹ thuật, sáng kiến nâng cao hiệu quả công tác, hiệu suất công việc,
dù là nhỏ nhất.
2. Khẩn trương, quyết
liệt hoàn thiện thể chế; xoá bỏ mọi tư tưởng, quan niệm, rào cản đang cản trở
sự phát triển; đưa thể chế thành một lợi thế cạnh tranh trong phát triển khoa
học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Tiếp tục thể chế hoá đầy đủ và thực hiện có
hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
Bộ Chính trị, Ban Bí thư về phát triển giáo dục và đào tạo; khoa học và công
nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia. Tập trung triển khai tốt các
nội dung sau:
- Khẩn trương sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện
đồng bộ các quy định pháp luật về khoa học, công nghệ, đầu tư, đầu tư công, mua
sắm công, ngân sách nhà nước, tài sản công, sở hữu trí tuệ, thuế… để tháo gỡ
các điểm nghẽn, rào cản, giải phóng các nguồn lực, khuyến khích, phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, phát triển nguồn
nhân lực; cải cách phương thức quản lý, triển khai các nhiệm vụ khoa học và
công nghệ phù hợp với từng loại hình nghiên cứu; cải cách cơ chế quản lý tài
chính trong việc thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số, đơn giản hoá tối đa các thủ tục hành chính; giao quyền tự chủ
trong sử dụng kinh phí nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ.
- Có cách tiếp cận mở, vận dụng sáng tạo, cho
phép thí điểm đối với những vấn đề thực tiễn mới đặt ra. Chấp nhận rủi ro, đầu
tư mạo hiểm và độ trễ trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới
sáng tạo.
Có cơ chế thí điểm để doanh nghiệp thử nghiệm
công nghệ mới có sự giám sát của Nhà nước; có chính sách miễn trừ trách nhiệm
đối với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong trường hợp thử nghiệm công nghệ
mới, mô hình kinh doanh mới mà có thiệt hại về kinh tế do nguyên nhân khách quan.
Hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm cho khởi nghiệp sáng tạo, ươm tạo công nghệ
và chuyển đổi số.
- Thống nhất, nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phát triển các
viện nghiên cứu, trường đại học trở thành các chủ thể nghiên cứu mạnh, kết hợp
chặt chẽ giữa nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo. Đầu tư, nâng cấp Viện Hàn lâm
Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, cùng các
cơ sở nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo trọng điểm quốc gia. Sáp nhập,
giải thể các tổ chức khoa học và công nghệ hoạt động không hiệu quả.
Có cơ chế, chính sách hỗ trợ, phát triển các
tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ công lập hoạt động hiệu quả; giao
quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức, cán bộ, tài chính, chuyên môn;
được sử dụng ngân sách nhà nước thuê chuyên gia, sử dụng tài sản hữu hình và
trí tuệ để liên kết, hợp tác khoa học và công nghệ với các tổ chức, doanh
nghiệp. Có cơ chế cho phép và khuyến khích các tổ chức nghiên cứu, nhà khoa học
thành lập và tham gia điều hành doanh nghiệp dựa trên kết quả nghiên cứu.
- Thu hút, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực
đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc
gia. Ngân sách chi cho nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ ưu tiên thực
hiện theo cơ chế quỹ, thông qua các quỹ phát triển khoa học và công nghệ. Cơ
cấu lại nguồn ngân sách chi sự nghiệp khoa học và công nghệ bảo đảm tập trung,
có trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải.
Có cơ chế khuyến khích mua sắm công đối với
các sản phẩm, hàng hoá là kết quả nghiên cứu khoa học do doanh nghiệp trong
nước tạo ra. Có cơ chế đặc biệt trong nghiên cứu, tiếp cận, mua các bí mật công
nghệ, học hỏi, sao chép các công nghệ tiên tiến của nước ngoài.
3. Tăng cường đầu tư,
hoàn thiện hạ tầng cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
quốc gia
- Ban hành Chương trình phát triển công nghệ
và công nghiệp chiến lược; Quỹ đầu tư phát triển công nghiệp chiến lược (ưu
tiên các lĩnh vực quốc phòng, không gian, năng lượng, môi trường, công nghệ
sinh học, trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, bán dẫn, công nghệ lượng tử,
robot và tự động hoá…); có cơ chế thử nghiệm chính sách nhằm thúc đẩy nghiên
cứu, phát triển, ứng dụng, chuyển giao công nghệ chiến lược. Bố trí ít nhất 15%
ngân sách nhà nước chi sự nghiệp khoa học phục vụ nghiên cứu công nghệ chiến
lược; ban hành cơ chế, chính sách hợp tác công tư để nghiên cứu và phát triển
công nghệ chiến lược.
- Ban hành các chiến lược nghiên cứu, ứng dụng
khoa học, công nghệ trong khai thác, phát triển không gian biển, không gian
ngầm, không gian vũ trụ. Chú trọng phát triển hạ tầng năng lượng, nhất là năng
lượng mới, năng lượng sạch và bảo đảm an ninh năng lượng cho phát triển khoa
học, công nghệ, các ngành công nghiệp chiến lược. Quản lý chặt chẽ, khai thác,
sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên khoáng sản của đất nước, nhất là đất
hiếm để phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.
- Phát triển hệ thống các trung tâm nghiên
cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, tập trung cho công
nghệ chiến lược. Có cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức, cá
nhân, doanh nghiệp đầu tư, xây dựng các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu
và phát triển khoa học, công nghệ.
- Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ
số. Ban hành chính sách khuyến khích đầu tư, mua, thuê các sản phẩm, dịch vụ
số; chính sách đặc biệt để đào tạo, phát triển, thu hút tổ chức, cá nhân, doanh
nghiệp trong và ngoài nước hoạt động lĩnh vực chuyển đổi số, phát triển sản
phẩm công nghệ số, công nghiệp an ninh mạng. Xây dựng và dùng chung các nền
tảng số quốc gia, vùng, bảo đảm hoạt động thống nhất, liên thông của các ngành,
lĩnh vực trên môi trường số. Thúc đẩy hệ sinh thái kinh tế số trên các lĩnh
vực.
- Có cơ chế hợp tác công tư để phát triển hạ
tầng số hiện đại, trong đó nguồn lực nhà nước là chủ yếu. Phát triển hạ tầng
viễn thông, Internet đáp ứng yêu cầu dự phòng, kết nối, an toàn, bền vững, hệ
thống truyền dẫn dữ liệu qua vệ tinh, mạng cáp quang băng thông rộng tốc độ cao
phủ sóng toàn quốc, mạng thông tin di động 5G, 6G và các thế hệ tiếp theo. Phát
triển hạ tầng vật lý số, hạ tầng tiện ích số; tích hợp cảm biến, ứng dụng công
nghệ số vào hạ tầng thiết yếu. Phát triển ngành công nghiệp IoT, xây dựng một
số cụm công nghiệp IoT di động.
- Có cơ chế, chính sách hỗ trợ các doanh
nghiệp trong nước đầu tư, xây dựng trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây; thu
hút doanh nghiệp nước ngoài đặt trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây tại Việt
Nam. Hình thành hạ tầng lưu trữ, tính toán đạt tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn
xanh. Sớm hoàn thành và phát huy hiệu quả Trung tâm dữ liệu quốc gia; đầu tư
xây dựng các trung tâm dữ liệu vùng. Xây dựng, phát huy hiệu quả dữ liệu quốc
gia, dữ liệu của bộ, ngành, địa phương bảo đảm liên thông, tích hợp, chia
sẻ.
Có cơ chế, chính sách bảo đảm dữ liệu thành
nguồn tài nguyên tư liệu sản xuất quan trọng. Xác lập quyền sở hữu, kinh doanh
dữ liệu và phân phối giá trị tạo ra từ dữ liệu. Phát triển kinh tế dữ liệu, thị
trường dữ liệu và các sàn giao dịch dữ liệu. Xây dựng các cơ sở dữ liệu lớn có
chủ quyền của Việt Nam. Hình thành ngành công nghiệp dữ liệu lớn của Việt Nam.
Phát triển mạnh mẽ ứng dụng trí tuệ nhân tạo dựa trên dữ liệu lớn đối với các
ngành, lĩnh vực quan trọng.
4. Phát triển, trọng dụng
nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
- Tăng cường đầu tư, đổi mới, nâng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo, bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu
cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Có cơ chế, chính sách hấp dẫn về tín dụng, học bổng và học phí để thu hút học
sinh, sinh viên giỏi theo học các lĩnh vực toán học, vật lý, sinh học, hoá học,
kỹ thuật và công nghệ then chốt, nhất là ở các trình độ sau đại học. Xây dựng
và triển khai các chương trình đào tạo tài năng trên các lĩnh vực.
Ban hành cơ chế đặc thù thu hút người Việt Nam
ở nước ngoài và người nước ngoài có trình độ cao về Việt Nam làm việc, sinh
sống. Có cơ chế đặc biệt về nhập quốc tịch, sở hữu nhà, đất, thu nhập, môi
trường làm việc nhằm thu hút, trọng dụng, giữ chân các nhà khoa học đầu ngành,
các chuyên gia, các "tổng công trình sư" trong và ngoài nước có khả
năng tổ chức, điều hành, chỉ huy, triển khai các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia
về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển công nghệ
trí tuệ nhân tạo và đào tạo nguồn nhân lực. Xây dựng, kết nối và phát triển
mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế.
- Xây dựng một số trường, trung tâm đào tạo
tiên tiến chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo. Có cơ chế đặc thù về hợp tác công tư
trong đào tạo nhân lực công nghệ số. Xây dựng nền tảng giáo dục, đào tạo trực
tuyến, mô hình giáo dục đại học số, nâng cao năng lực số trong xã hội.
- Phát triển đội ngũ giảng viên, các nhà khoa
học đủ năng lực, trình độ đáp ứng việc giảng dạy lĩnh vực khoa học cơ bản, công
nghệ chip bán dẫn, vi mạch, kỹ thuật và công nghệ then chốt; đẩy mạnh hợp tác
với các đại học uy tín của nước ngoài; đổi mới mạnh mẽ chương trình đào tạo
theo chuẩn quốc tế, hiện đại hoá phương thức đào tạo và ứng dụng công nghệ tiên
tiến, nhất là trí tuệ nhân tạo.
5. Đẩy mạnh chuyển đổi
số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ
quan trong hệ thống chính trị; nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, hiệu lực
quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, bảo đảm quốc phòng và an ninh
- Có kế hoạch và lộ trình đưa toàn bộ hoạt
động của các cơ quan trong hệ thống chính trị lên môi trường số, bảo đảm liên
thông, đồng bộ, bí mật nhà nước. Xây dựng nền tảng số dùng chung quốc gia, phát
triển hệ thống giám sát, điều hành thông minh nhằm tăng cường quản lý công.
Đổi mới toàn diện việc giải quyết thủ
tục hành chính, cung cấp dịch vụ công không phụ thuộc địa giới hành chính; nâng
cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ số cho người dân và doanh
nghiệp, hướng tới cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, cá nhân hoá và
dựa trên dữ liệu; tăng cường giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình của
cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong phục vụ Nhân dân.
Có chính sách đặc thù để thu hút, tuyển
dụng, giữ chân nhân lực về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số làm việc trong
các cơ quan của hệ thống chính trị.
- Phát triển các nền tảng số an toàn và tăng
cường ứng dụng công nghệ số, hình thành công dân số. Phát triển một số mạng xã
hội Việt Nam, xây dựng xã hội số an toàn, lành mạnh. Phát triển văn hoá số bảo
đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên không gian mạng,
giảm thiểu tác động tiêu cực của công nghệ số đối với xã hội. Xây dựng nền tảng
số nhằm giám sát, thu thập dữ liệu lĩnh vực tài nguyên, môi trường.
- Bảo đảm an toàn, an ninh mạng và chủ quyền
quốc gia trên nền tảng số và không gian mạng; an ninh, an toàn dữ liệu hợp pháp
của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp và chủ quyền an ninh dữ liệu quốc gia. Hiện
đại hoá vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, an ninh.
Từng bước ứng dụng công nghệ số trong chỉ huy,
điều hành tác chiến của lực lượng vũ trang cũng như làm chủ công nghệ cao trong
hoạt động quốc phòng, an ninh. Ngăn chặn hiệu quả tội phạm lĩnh vực chuyển đổi
số, chống lừa đảo trực tuyến. Xây dựng, phát huy sức mạnh thế trận chiến tranh
nhân dân, thế trận lòng dân trên không gian mạng để bảo vệ Tổ quốc.
6. Thúc đẩy mạnh mẽ hoạt
động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong doanh nghiệp
- Có các chính sách ưu đãi, khuyến khích doanh
nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư cho chuyển đổi số, nghiên cứu,
ứng dụng khoa học, đổi mới công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh,
quản trị doanh nghiệp; đẩy mạnh chuyển giao tri thức, đào tạo nhân lực khoa
học, công nghệ, đổi mới sáng tạo thông qua doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI); hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ trong nước đầu tư ra nước
ngoài.
- Có chính sách đủ mạnh khuyến khích tinh thần
khởi nghiệp về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cùng với
chính sách hỗ trợ khởi nghiệp và thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước
khởi nghiệp tại Việt Nam.
- Có cơ chế, chính sách hỗ trợ hình thành và
phát triển một số doanh nghiệp công nghệ số chiến lược trong nước quy mô lớn để
phát triển hạ tầng số, dẫn dắt chuyển đổi số quốc gia và đủ năng lực cạnh tranh
quốc tế; cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ cho các doanh nghiệp công nghệ số thực
hiện các nhiệm vụ trọng điểm về chuyển đổi số; cơ chế ưu đãi về đất đai, tín
dụng, thuế trong nghiên cứu, thử nghiệm, ứng dụng, phát triển, sản xuất sản
phẩm, dịch vụ công nghệ số. Phát triển một số khu công nghiệp công nghệ số.
Thúc đẩy doanh nghiệp tái đầu tư hạ tầng, đầu tư nghiên cứu và phát triển
(R&D).
- Đẩy mạnh tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ trên
môi trường số, bảo đảm kinh tế số các ngành, lĩnh vực chiếm tối thiểu 70% kinh
tế số; đẩy mạnh sản xuất thông minh trong các ngành, lĩnh vực: Nông nghiệp,
thương mại, tài chính, giáo dục, y tế, giao thông, logistics.
7. Tăng cường hợp tác
quốc tế trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Tập trung đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa
học, phát triển công nghệ với các quốc gia có trình độ khoa học và công nghệ,
chuyển đổi số phát triển, nhất là các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh
học, công nghệ lượng tử, bán dẫn, năng lượng nguyên tử và các công nghệ chiến
lược khác.
Có chính sách mua, chuyển giao công nghệ tiên
tiến phù hợp với điều kiện Việt Nam. Chủ động, tích cực tham gia xây dựng các
quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế về các công nghệ mới bảo đảm an toàn và cùng có
lợi. Thúc đẩy nâng cao năng lực và chuyển giao công nghệ trong các thoả thuận
quốc tế, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên tham gia.
IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phát
triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, do đồng chí Tổng
Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm Trưởng Ban. Thành lập Hội đồng Tư vấn
quốc gia về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
với sự tham gia của các chuyên gia trong và ngoài nước.
2. Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo rà
soát, hoàn thiện pháp luật về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số; tăng cường giám sát thực hiện theo quy định.
3. Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo
xây dựng chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết; phối hợp với
Đảng đoàn Quốc hội thể chế hoá đầy đủ các chủ trương, chính sách nêu trong Nghị
quyết này và bố trí đủ nguồn lực để thực hiện, cơ bản hoàn thành trong năm
2025.
4. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
chính trị - xã hội lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch hướng dẫn,
vận động Nhân dân thực hiện Nghị quyết, phát huy vai trò giám sát, phản biện xã
hội, tham gia xây dựng pháp luật, cơ chế, chính sách về phát triển khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
5. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp
với các cơ quan liên quan hướng dẫn việc quán triệt thực hiện Nghị quyết; hướng
dẫn tăng cường tuyên truyền các nội dung của Nghị quyết.
6. Văn phòng Trung ương Đảng phối hợp với Ban
Kinh tế Trung ương theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết;
định kỳ 6 tháng báo cáo kết quả với Ban Chỉ đạo Trung ương và Bộ Chính trị để
chỉ đạo.
Nghị quyết này phổ biến đến chi bộ.